Ông Táo về trời - Tìm hiểu về phong tục PDF Print E-mail
Written by Việt Nhân   
Wednesday, 26 January 2011 21:11

Bài viết này là bài tổng hợp từ nhiều nguồn bài khác nhau trên Internet để cùng tìm hiểu về phong tục tiễn Ông Táo về trời vào ngày 23 Tết Âm Lịch.

Nguồn bài: http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/Tin-Tieu-Diem/Ong-Tao-Ve-Troi.html

Theo ông Huỳnh Ngọc Trảng (Nhà nghiên cứu văn hoá- nghệ thuật Nam Bộ)

Tất niên, tiễn Ông Táo về trời. Ngoài Bắc cúng cá chép: Cá vượt song, vượt vũ môn hoá rồng đưa Ông Táo chầu trời. Trong Nam phổ biến là bộ đồ cúng “Cò bay ngựa chạy” in trên giấy có hình con tuấn mã và một con cò đang dang cánh: Đường bộ Ông Táo cưỡi ngựa, lên trời thì cưỡi lên lưng cò.

Tưởng rằng Bá Táo thật thà
Ai hay Bá Táo một bà hai ông!

Cứ đến cuối năm, người ta ra ruộng đào lấy đất sét nắn ba ông Táo mới rồi đem phơi khô để chuẩn bị thay ba Ông Táo cũ vào tối 23 tháng Chạp - gọi là cúng tiễn Ông Táo về Trời. Có nơi, cuối năm, các lò gốm làm Ông Táo bằng đất nung để bán. Dù là Ông Táo nặn bằng đất sét hay bằng đất nung đều có hai Ông và một “Ông Táo Cái” hay “ Ông Táo Chúa”, với đặc điểm khác biệt là có cái “lỗ rốn” lõm sâu vào một hai phân ở giữa, khoảng một phần ba, tính theo chiều cao từ dưới lên. Tôi chưa nghe ai gọi Ông Táo Cái này là “Bà Táo”, mặc dù câu chuyện suy nguyên về bộ ba Ông Táo này rất phổ biến: Một phụ nữ có hai đời chồng, cả ba đều nhảy vào đống lửa tự tử.
Tranh thờ Táo Quân đều vẽ đúng theo sự tích dân gian, gồm một phụ nữ ngồi giữa và hai người đàn ông ngồi hai bên. Sách Gia Định thành thông chí chép tục thờ thần Táo ở đất Gia Định xưa: “Ở hai bên tả hữa vẽ hai hình người nam, ở giữa vẽ một hình người nữ, cùng tượng trưng quẻ Ly hoả, ngụ ý một hào âm ở giữa hai hào dương làm chủ” (1). Điều này cho thấy tuồng nhe dẹ tích Táo Quân (một bà hai ông) là một câu chuyện được biện sự để cắt nghĩa nguồn gốc ba Ông Táo theo quan điểm Dịch lý về quẻ Ly hoả, “một hào âm ở giữa hai hào dương”.

Trong thực tế, sự tích về ba Ông Táo, cũng như cách lý giải bác học quan phương của Nho sĩ họ Trịnh không là quan điểm chủ đạo trong tâm thức tín ngưỡng trong các cộng đồng dân cư ở xứ Gia Định, nói rộng là cả Nam bộ. Ngược lại, Táo Quân được coi là một nhân thần chỉ định.

Táo Quân chơn kinh cho Ông Táo có họ Trương tên Đang, tự Tử Quách, vợ là Bà Táo Lai Nữ và hai phụ tá: Tả Mạng thần quan (ghi sổ công) và Hữu Mạng thần quan (ghi sổ quá) (2); Thơ Táo Quân diễn ca cũng nói Táo Quân họ Trương (3). Theo Lê Văn Phát thì Ông Táo có tên là Trương Thiện Táo - một phán quan đời nhà Tống (bên Trung Quốc), có nhiệm vụ theo dõi và xét xử giảm khinh tội phạm. Ông chết, Ngọ Hoàng tưởng đến công đức của ông đã phong cho ông chức vụ giám sát công việc của người đời và hằng năm báo cáo để Ngọc Hoàng thưởng công phạt tội cho người ở trần thế chính xác và công bình. Ông Táo Trương Thiện Táo có hai bộ hạ là Hồng Lực Sĩ (vốn là tay ăn cướp bị Táo khuất phục) và Tạ Phán Quan (lo giữ sổ ghi chép công tội của con người ) (4). Cũng theo Lê Văn Phát, do tên Ông Táo đồng âm với thần bếp nên có sự lẫn lộn nhau. Điều này, qua quan sát thực tế, chúng tôi thấy rằng: 1) Thần Bếp có danh hiệu là Đông Trù, Tư mệnh Táo phủ thần quân, được thờ ở dưới bếp; và 2) Táo Quân thường được định danh là Đinh Phước Táo Quân, thờ ở trang thờ, ngay phía trên bàn thờ Tổ Tiên ở gian giữa nhà trên. Theo đó, trong dân gian phân làm hai loại: 1 – “Thổ Táo” (khi đã cũ đem đặt ngoài gốc cây cổ thụ ở ngoài trời gọi là “Quỉ Táo”) và loại 2 - gọi là “Phật Táo”.

Nói chung sự phân biệt về chức năng, do những tính lý khác nhau, đặc điểm là các luồng tín lý Trung Quốc du nhập theo các nhóm di dân thời cận đại, nên Táo Quân/Ông Táo cũng bị định vị/định danh khác nhau (5). Ở vùng đất phương Nam, sự việc đa tạp như đã nói trên. Còn ở miền Bắc phổ biến là sự đồng nhất giữa Thổ Công (Ông Công) với Táo Quân (Ông Táo) (6).

Ở Trung Bộ, cụ thể là kết quả quan sát một số địa phương thuộc tỉnh Quảng Nam: Hầu hết các gia đình đềi thiết lập một “trang thờ Ông Táo”, ngay trên cửa chính, phía bên trong nội thất nhà trên, đối diện với hương án thờ tổ tiên. Tuy phổ biến dân gian gọi là “Trang thờ Ông Táo”, song theo các bô lão thuộc diện những “Nho sĩ cuối cùng” thì đó là nơi thờ Ngũ Tự: Táo, Tỉnh, Môn, Hộ và Trung lưu. Bằng chứng lịch sử về tục thờ Ngũ Tự này là những ghi chép của Đặng Huy Trứ (1825-1874) trong Đặng Dịch trai ngôn hành lục (Dịch Trai Đặng Văn Trọng: cha của Đặng Huy Trứ) (7). Ở sách này tác giả cũng đưa ra quan điểm chính thống về việc thờ tự : “Thiên tử tế Trời Đất; các Chư Hầu tế sông núi; các quan đại phu tế Ngũ Tự. Sĩ dân và dân thường chưa được tế Ngũ đế, Ngũ Tự mà chỉ được tế Táo Thần và Trung Lưu Thần. Ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ có công dụng lớn nên sĩ tử và dân thường theo Ngũ Tự thuộc ngũ hành nên thờ cúng, Nhà (Hộ), bếp (Táo), gian giữa (Trung Lưu), cửa (Môn), giếng (tỉnh) đối với mọi nhà, thiếu một cái cũng không được” (8). Điều đó cho thấy có sự phân biệt đẳng cấp trong việc thờ Ngũ Tự và giải thích lý do nhập nhằng trong quan niệm của dân chúng – như trường hợp quan sát được ở Quảng Nam nói trên.

Cũng theo Đặng Huy Trứ: “Táo Thần ở trên trời là các vì sao, phụ giúp Ngũ đế có công dạy dân đánh cá, nuôi súc vật, cày cấy, chữa bệnh. Ở dưới đất là vị thần trong coi bản mện cho mọi người”. Việc Táo Quân sinh ngày 3 tháng 8 con chép trong sách “Lục tạng tôn kinh”. “Táo chuyên ghi chép việc lành dữ ở trần gian, đến ngày 30 hàng tháng và 24 tháng Chạp đem mọi việc tâu lên Thiên Tào để định hoạ phúc” (9).
Ông Táo, nói chung ngoài chức năng tai mắt của Ngọc Hoàng thượng đế ở trần gian, Ông còn là thần Tư mệnh của gia đình, đứng đầu các thần bản gia (Ngũ Tự) - gọi là “Đệ nhất chi chủ”. Trong dân gian chức năng “Tư mệnh” bao gồm việc bảo hộ cho trẻ con, cho gia súc. Do đó, trước đây, các bậc cha mẹ hay có tục ký bán con trẻ 3,6,9 thậm chí 12 tuổi cho Ông Táo; khi ra đường, người ta quẹt lọ ở Ông Táo để đánh một dấu chữ thập lên trán đứa bé, hoặc bôi lên trán lọ Ông Táo cốt để đứa bé “xấu xí” đi và coi việc đó là để đảm bảo an toàn cho đứa trẻ.

Khi xin/mua chó hay mèo con về nuôi thì công việc đầu tiên là bắt chúng lạy Ông Táo, lại giật một ít lông ở chân và đuôi nhét dưới đít Ông Táo cốt để làm phép cho thú nuôi không bị đau ốm và không bỏ đi rông mất đi, nếu có đi lạc thì luôn trở về với chủ!
Về chức năng tai mắt cho Ngọc Hoàng thượng đế, người ta chủ vào ngày vía triều thiên, 24 tháng Chạp. Người ta xác tín là Táo khởi hành đi chầu Trời vào lúc 24 giờ đêm 23 rạng 24 tháng Chạp nên lễ cúng tiễn thường tổ chức vào đâu hôm ngày 23 tháng Chạp. Bởi vậy lời tục có câu:

Hăm ba Ông Táo về Trời
Bình vôi ở lại chịu lời đắng cay

Công việc trên Trời đến cuối năm là hoàn tất nên 30 tháng Chạp (tháng thiếu 29 tháng Chạp) người ta cúng rước Ông Táo về lại với gia đình. Lễ vật cúng tiễn Ông Táo thường là hương, đăng, trà, quả, bánh kẹo, chè đậu. Ở miền Nam, phổ biến là loại kẹo ngọt - gọi là “thèo lèo” (hiểu là “trà liệu” - thức ăn ngọt để uống trà) - gốc từ người Hoa. Nhiều người “kỹ tính” lễ cúng đưa Ông Táo dùng toàn đồ chay cốt để Ông được “trai tịnh” mà không dám nói điều xấu cho chủ nhà. Có bài thơ ngạo đời nói về việc Ông Táo đi chầu Trời rất phổ biến rằng:

Một bát nước, một lọn nhang,
Đưa ông vể tấu việc nhơn gian.
Ngọc Hoàng phán hỏi: Chi là quí?
- Dưới thế gì hơn bạc với vàng!

Thứ lễ vật bó buộc là phương tiện vận chuyển cho Ông Táo. Ngoài Bắc cúng cá chép: cá vượt sông, qua vũ môn hoá rồng đưa Ông Táo lên Trời! Trong Nam, phổ biến là bộ đồ cúng Ông Táo in trên giấy – gọi là bộ “Cò bay ngựa chạy” (hình một con tuấn mã và một con cò dang cánh): đường bộ Ông Táo cưỡi ngựa, lên trời thì cưỡi trên lưng cò. Bộ tranh khắc gỗ “Cò bay ngựa chạy” này là biến thể của nghi thức xá mã – xá hạc của thầy pháp và cũng phổ biến trong khoa nghi của nhà Phật: Ngựa và Hạc ở các nghi lễ này là sứ giả mang các sớ tấu đến các trú sở của chư vị thần Phật ở tứ phương tám hướng, từ trên trời đến địa phủ, long cung dưới nước.

Việc tiến hành lễ tiễn Ông Táo về trời đồng thời là việc thay ba Ông Táo cũ bằng ba Ông Táo mới. Chúng ta thấy có hai tập tục cũ tuông như trái ngược nhau: một là tập tục giữ lửa thiêng bằng cách ủ trấu không cho lửa tắt (tập tục này còn bảo lưu ngay khi đã có diêm quẹt và bật lửa/máy lửa; và hai là nghi lễ gầy lửa mới qua việc thay ba ông thổ táo/ông lò hàng năm vào ngày 23 tháng Chạp. Nghi lễ lửa mới của đạo Công giáo được cử hành trong đêm lễ Phục sinh và nghi lễ này của Thần đạo (Shinto/Nhật Bản) trùng với lễ năm mới. Hai dữ liệu này cho thấy, tập tục thay ba Ông Táo mới hàng năm của xứ ta hàm chứa ý nghĩa của nghi lễ tẩy uế và tái sinh - chức năng chủ yếu của lễ lửa mới. Nói rộng ra là: Tết là năm mới, vận hội mới, chu kỳ mới và… lửa mới!
Nói chung, tín ngưỡng Ông Táo đã không ngừng thay đổi theo thời gian, tạo nên một tập thành đa tạp khó bề truy cứu ra nguyên uỷ của nó. Song điều rõ rệt là tập tục này khởi nguyên từ tín ngưỡng thờ lửa mà gần gũi nhất là lửa bếp.

Bếp tượng trưng cho sự sống chung, cho mái ấm gia đình, cho mối quan hệ giữa người đàn ông và người đàn bà, cho tình yêu, cho sự kết hợp lại với nhau và sự giữ gìn lửa. Bếp giống như mặ trời: làm cho mọi người gần nhau bởi sức ấm nóng/hơi ấm và ánh sáng của nó – là nơi đun nấu thức ăn nên nó là trung tâm của cuộc sông, từ đó cuộc sống được ban cho, duy trì và sinh sôi. Bởi vậy, bếp được hầu hết các tộc người tôn kính: nó trở thành điện thờ, nơi con người cầu sự bảo hộ của Thượng đế và là nơi thờ cúng: Ngọn lửa bốc lên như một cửa ngõ thông linh của họ với cõi thiêng.
Như đã nói, bộ ba Ông Táo “một bà hai ông” là một biện sự bằng hình tướng của quẻ Ly hoả (9); và trong khuôn khổ của văn hoá Trung Hoa, lửa/hoả còn biểu thị cho màu đỏ (thuộc ngũ sắc), tâm (thuộc ngũ tạng), phương Nam (thuộc ngũ phương) và mùa hè. Tài liệu dân tộc Mường cho chúng ta một cơ cấu thần Bếp là “bộ tứ” có phần khác với “bộ ba” ông Táo của người Việt. Đây là một dữ liệu cho thấy “cổ mẫu” của việc thờ Táo.

Khi làm nhà mới, công việc lưu tâm hàng đầu đối với người Mường là dựng bếp. Người ta cử hành lễ đặt ba hòn đầu rau: Hòn chính (gọi là “nục thầy) chiếu thẳng góc với cột cái ngôi nhà; hai hòn kia hai bên – gọi là “nục theo”. Quan trọng nhất là người ta đặt cạnh đó một hòn đá to hơn ba hòn đầu rau - gọi là “nục chủ”. Theo truyền thuyết dân gian Mường Bi thì người xưa đã dùng hai cục đá đánh vào nhau để lấy lửa. Do đó, hòn “nục chủ” đặt cạnh bếp được các nhà dân tộc học cho rằng đây là dấu vết tục thờ đá, một tập tục tín ngưỡng ra đời khi con người đã tìm ra lửa, đưa con người từ “văn hoá sống” bước sang “văn hoá chín” (10). Rõ ràng là hòn đá “nục chủ” không thuộc yêu cầu vật lý (3 điểm chịu lực) của bộ ba ông đầu rau. Nói cách khác nó không có chức năng ích dụng và như vậy, nó có chức năng tín ngưỡng. Điều lưu ý là khi người ta lấy hòn đá để thờ cúng thì không phải thờ cúng tảng đá đó mà thờ vị thần ngự trong hòn đá đó. Ở đây, “nục chủ”, hòn đá được bắt buộc phải dựng trong dịp làm nhà mới là nơi trú ngụ của “đệ nhất gia chi chủ” hay cũng có thể đó vốn là nơi trú ngụ của linh hồn tổ tiên Mường thời cổ?

Tục thờ cúng Ông Táo/vua bếp/thần lửa là một tập tục tín ngưỡng có từ thời cổ và thay đổi liên tục trong lịch sử của từng tộc người. Người Khmú coi ông đầu rau là “ma phù hộ thị tộc mẫu hệ”; người Vân Kiều thờ lửa rất nghiêm cẩn: tuyệt đối cấm lấy lửa từ bếp gia đình đem ra ngoài, cấm con rể lấy lửa từ bếp hút thuốc; người Kadong trong lễ cúng tỉa lúa luôn gạt ít cơm cúng vào hòn đá bếp; trong khi đó người Hrê lại nhỏ máu gà (dùng làm lễ vật) lên hòn đá bếp (mopoong đinh) trong lễ cúng cơm mới và không ít tộc người, trong nhà có nhiều bếp để nấu các thức ăn khác nhau (cám lợn, thức ăn) và đặc biệt là cái bếp thiêng/bếp kiêng chỉ dùng cho mỗi một việc là đồ cơm, không được nấu bất cứ thức gì khác… Nói chung, tập tục thờ cúng Ông Táo coi ra không phải là chuyện lịch sử - văn hoá đơn giản. Để có thể giải mã tường minh hẳn là phải có một chuyên khảo. Đó là việc phải chờ ra Giêng – ngày rộng tháng dài. Năm hết Tết đến, việc bận rộn, Ông Táo cũng vừa về đến ngõ rồi.

Chú thích:
(1) Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, bản dịch Tu trai Nguyễn Tạo, S.,1972, Tập hạ, tr.4.
(2) Táo quân chơn kinh/Imp, de l’union, Sài Gòn, 1953.
(3) Xem Trần Văn Toàn: mấy tư liệu về tôn giáo trong dân gian/Tạp chí Đại học, số 40, 8-1964, tr.579-583.
(4) Lê Văn Phát: La vie intime d’un annamite de Cochinchine et ses croyances vulgaires/Imp.F.H.Schneider, Sai Gon, 1907, tr.7-8;11.
(5) Theo Táo quân chơn kinh (sđd), danh hiệu (và công năng) của Táo quân là: - Cửu thiên Đông Trù Tư mạng Táo phủ thần quân Định quốc hộ trạch Đại Thiên tôn – Đông Trù Tư mạng Định phước Táo quân Hoá sanh Định lộc Thiên tôn.
(6) Xem hai tranh khắc “Thổ công vị” và “Táo quân vị” của bộ tranh khắc đầu thế kỷ XX: H.Oger: Technique du peuple annamite [Encyclopédie de la civilisation matérielle du pays d’ Annamite]. Paris, 1908-1909. Thật ra Thổ công là một trong 5 thần long mạch ngũ Thổ: Thổ công, Thổ chủ, Thổ địa, Thổ phủ, Thổ kỳ.
(7) Đặng Huy Trứ: Đặng Dịch Trai ngôn hành lục/Bản dịch của nhóm Trà Lĩnh, Hội Sử học Việt Nam xb, 1993, tr.55-56.
(8) Đặng Huy Trứ, Sđd, tr.59.
(9) Đặng Huy Trứ, sđd, tr.60-61.
(10) Nguyễn Hữu Thức: Tín ngưỡng dân gian, tục thờ và lễ hội/trong Người Mường với văn hoá cổ truyền Mường Bi/Sở VH-TT Hà Sơn Bình xb, 1988, tr.130-131.

Nguồn bài: http://antg.cand.com.vn/vi-VN/vuan/2008/7/61235.cand

Trong dân gian nước ta, nguồn gốc của tập tục cúng tiễn đưa ông Táo được giải thích bằng một câu chuyện tình rất cảm động giữa một phụ nữ cùng hai người chồng của mình, một cũ, một mới, như nhiều người đã biết. Nhưng thật ra, lễ cúng ông Táo có xuất xứ từ Trung Quốc.

Ở Trung Quốc, thần ông Táo - còn được gọi với nhiều tên khác nhau là ông Táo Vương, ông Táo Quân, Đông Trù Tư Mệnh, Nhất gia chi chủ... đã cùng với thần Cửa, thần Giếng, thần Nhà xí, thần Đất hợp thành 5 vị thần có nhiệm vụ bảo vệ sự an ninh của mọi gia đình, nên được sự kính trọng và tin cậy của mọi người.

Về nguồn gốc của  tập tục này có nhiều cách giải thích khác nhau. Sử sách cho rằng, lễ cúng thần Táo có liên quan đến việc sùng bái thần Lửa của con người ở thời cổ đại. Thần Táo lúc đầu chính là thần Lửa, do Viêm Đế - vị vua đầu tiên của Trung Quốc theo truyền thuyết - hóa kiếp sau khi chết. Một giả thuyết khác cho rằng thần Táo chính là Chúc Dung, con của Chuyên Húc, thủ lĩnh một bộ tộc trong truyền thuyết.  Càng về sau, càng có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng chưa có cách lý giải nào là đáng tin cậy. Chức trách của thần Táo cũng có thay đổi theo thời gian. Vào thời Tiên Tần, ông Táo chỉ lo việc bếp núc, nhưng từ nhà Hán trở đi, ông Táo là một vị thần  được Thiên Đế phái xuống trần thế để giám sát công tội của con người.

Tục cúng ông Táo bắt đầu từ đời nhà Chu, trước nhà Hán thì cử hành vào tháng 4 Âm lịch, sau đó đã thay đổi nhiều lần. Từ nhà Tống trở đi thì cố định vào hai ngày 23 và 24 tháng Chạp, ở miền Bắc thì vào 23, ở miền Nam thì vào 24. Tương truyền vào những ngày đó hàng năm, thần ông Táo phải về trời bẩm báo với Thiên Đế mọi chuyện sai phạm đã xảy ra ở từng nhà, từng hộ nơi trần gian. Căn cứ vào bẩm báo của các ông Táo, Thiên Đế sẽ đưa ra các hình thức trừng phạt. Trước việc làm đó của ông Táo, thái độ của người trần thế ngày càng tỏ ra khó chịu, từ tôn kính chuyển thành xa lánh, sợ hãi, rồi đi đến đối phó. Thủ đoạn đối phó chủ yếu của họ là thay đổi các món đồ cúng. Cúng phẩm trước nay là đầu chó nấu nhừ, cá tươi, bánh đậu, bánh khảo, sau đó tăng thêm loại kẹo dính răng, bã rượu, bánh dày và cuối cùng chỉ còn có kẹo dính răng và các thứ bánh ngọt bằng bột dẻo mà thôi. Dụng ý của người ta  là muốn dùng các thứ kẹo dính và bánh ngọt để ông Táo phải nghẹn họng, khó có thể nói được nhiều khi gặp Thiên Đế,  mà có nói nhiều thì cũng toàn những chuyện tốt đẹp.

Ngày xưa, trong lễ cúng ông Táo, nhiều nơi còn có hát những bài ca cúng ông Táo. Bài ca cúng ông Táo ở Vĩnh Cát, thuộc tỉnh Cát Lâm, có lời như sau: “Hỡi ông Táo vương, vốn tính Trương, hôm nay là ngày 23 tháng Chạp. Ngựa để cưỡi, sọt để xách, cỏ cây thanh lương đã chuẩn bị xong xuôi. Đưa tiễn cụ lên trời, người ở trần gian muốn cụ nói nhiều chuyện tốt, năm đến đem  may mắn về cho hạ giới”. Từ đó, có thể thấy, mục đích của việc cúng ông Táo là thông qua thần ông Táo, khấn cầu Thiên Đế đưa hạnh phúc xuống trần gian, khấn cầu cho mọi gia đình được bình an, thu hoạch được nhiều ngũ cốc.

Tục cúng ông Táo du nhập vào nước ta từ lâu, được dân ta tiếp thu và sử dụng như một sản phẩm tinh thần của dân tộc mình. Nó đã được lưu truyền mãi đến tận ngày nay, đã góp phần làm phong phú cho đời sống tâm linh và có tác dụng khuyên răn mọi người đối xử có văn hóa trong cuộc sống gia đình và xã hội.

Nguồn bài: http://www.vatgia.com/hoidap/4337/71247/tuc-dua-ong-tao-ve-troi-o-viet-nam-nhu-the-nao.html

Táo Quân được các gia đình cúng lễ quanh năm, vào các dịp sóc, vọng thường hương hoa oản quả. Những dịp lễ tết giỗ chạp hay có công to việc lớn trong nhà có thể cúng chay hoặc cúng mặn tuỳ nghi. Dịp lễ long trọng nhất dành riêng cho Táo Quân chính là tết ông Công ông Táo vào 23 tháng chạp. Theo tín ngưỡng cổ truyền, đây là ngày Táo Quân lên trời báo cáo Ngọc Hoàng Thượng đế những điều tai nghe mắt thấy ở trần gian, những hành vi, việc làm tốt, xấu của các thành viên trong gia đình trong năm một cách khách quan, trung thực. Phương tiện để Táo Quân lên trời là cá chép vàng. Tết ông Công ông Táo làm to nhỏ, chay mặn tùy khả năng mỗi gia đình, nhưng dứt khoát phải có bộ mã Táo Quân mới. Sau khi cúng Táo Quân, người ta hóa mã, đồng thời hóa cả bộ mã năm trước.

Lễ cúng Táo Quân ngày 23 tháng Chạp được coi là mang tính cách chuyển giao năm cũ, đón chào năm mới. Người ta chuẩn bị chu đáo cho chiều 30 là thời điểm đón ông Công ông Táo trở về trần gian làm nhiệm vụ năm mới. Ban thờ Thổ Công thường bày biện khá đơn giản gồm bộ 3 chiếc mũ. Chiếc mũ ở giữa là mũ đàn bà, hai bên là mũ đàn ông. Bộ mũ (dù ba chiếc hay một chiếc) đều kèm theo chiếc áo và đôi hia đính vào bệ giấy hoặc khi cúng được kê trên bệ là vài trăm thoi vàng mã.

Hình ảnh Táo Quân - vua bếp cũng trở nên gần gũi với cuộc sống hiện đại hơn với quan niệm gia đình nào được Táo Quân phù hộ nhiều thì hạnh phúc, yên ổn, thành đạt, bếp đỏ lửa mỗi ngày. Những gia đình không có điều kiện đỏ lửa mỗi ngày để ông vua bếp làm nhiệm vụ thì ngầm hiểu là Táo Quân chưa hoàn thành nhiệm vụ giữ gìn tổ ẩm gia đình một cách trọn vẹn.

Lễ vật cúng Táo Quân gồm có: mũ ông công ba cỗ hay ba chiếc (hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà). Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn. Những mũ này được trang sức với các gương nhỏ hình tròn lóng lánh và những giây kim tuyết màu sắc sặc sỡ. Để giản tiện, cũng có khi người ta chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông công (có hai cánh chuồn) lại kèm theo một chiếc áo và một đôi hia bằng giấỵ Màu sắc của mũ, áo hay hia ông công thay đổi hàng năm theo ngũ hành:

+ Năm hành kim thì dùng màu vàng
+ Năm hành mộc thì dùng màu trắng
+ Năm hành thủy thì dùng màu xanh
+ Năm hành hỏa thì dùng màu đỏ
+ Năm hành thổ thì dùng màu đen

Những đồ "vàng mã" này (mũ, áo, hia, và một số vàng thoi bằng giấy) sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo Quân.

Theo tục xưa, riêng đối với những nhà có trẻ con, người ta còn cúng Táo Quân một con gà luộc nữa. Gà luộc này phải thuộc loại gà cồ mới tập gáy (tức gà mới lớn) để ngụ ý nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ vậy!

Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc Việt Nam người ta còn cúng một con cá chép còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý "cá hóa long" nghĩa là cá sẽ biến thành Rồng đưa ông táo về trời. Con cá chép này sẽ sau đó được "phóng sinh" (thả ra ao, hồ hay sông). Tại miền Trung, người ta cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ. Ở miền Nam thì giản dị hơn, người ta chỉ cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy.

Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng...v...v) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc..v...v..) để tiễn Táo Quân.

Sự tích Táo Quân bắt nguồn từ Trung Hoa, cho nên truyện đã được "Việt Nam hóa" với nhiều tình tiết khác nhau. Tuy nhiên, các câu truyện vẫn nói lên "tình nghĩa yêu thương" giữa một người vợ và hai người chồng cũ và mới. Chính vì những mối ân tình đó mà ba người đều đã quyên sinh vì nhau... Thượng đế thông cảm mối tình sâu nghĩa đậm này đã cho về bếp núc ở gia đình... Bài vị thờ vua Bếp thường được ghi vắn tắt là "Định Phúc táo Quân" nghĩa là thần định mọi sự hạnh phúc.

 

Last Updated on Friday, 28 January 2011 09:55
 

Add comment


Security code
Refresh


Công cụ